Latest document





Counter
[lbl.thongke]: 13.999.741
Website Link
Main News Site
Kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phần loài động vật đáy tại các hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam
Ngày tạo: 05/10/12
Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quý báu vùng ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới

1. MỞ ĐẦU

Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quý báu vùng ven biển nhiệt đới và á nhiệt đới. Đây là nơi nuôi dưỡng không chỉ nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm biển, cua, cá bớp, sò, ốc hương... mà còn là nơi cư trú và kiếm ăn của nhiều loài bò sát quí hiếm như cá sấu, kỳ đà hoa, rùa biển. RNM là nơi làm tổ, kiếm ăn, nơi trú đông của nhiều loài chim nước, chim di cư, trong đó có một số loài đang bị đe dọa tuyệt chủng. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, RNM có thể cứu cả tài sản và tính mạng con người trước các cơn bão nhiệt đới dữ dội. Ngoài ra, hàng năm RNM còn cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái cho thu nhập khoảng 1,6 tỷ USD.

Do hậu quả của chiến tranh, đặc biệt là do sức ép của tăng dân số dẫn đến việc khai thác quá mức của người dân và phá RNM để nuôi tôm không có kế hoạch đã làm cho hơn một nửa diện tích RNM ở nước ta đã bị mất, phần còn lại đang bị đe dọa nghiêm trọng. Để phục hồi, bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên quý giá vùng biển cần có những nghiên cứu điều tra tổng thể đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản làm cơ sở đề xuất các giải pháp quy hoạch, quản lý thích hợp. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, báo cáo này trình bày “Kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phần loài động vật đáy tại các hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam”.

2. THỜI GIAN, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2011 đến tháng 8/2012

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần loài động vật đáy tại 28 tỉnh thành ven biển trong cả nước (4 vùng sinh thái: Khu vực miền Bắc; khu vực Bắc Trung Bộ; khu vực Nam Trung Bộ; khu vực Nam bộ).

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thu mẫu

Thu mẫu định tính

Đối với mẫu ở nền đáy: Dùng vợt cào, lưới vét đáy để thu mẫu trên nền đáy.

Đối với mẫubám vào các đám cỏ, cây bụi thủy sinh ven bờ hoặc các đám cây thủy sinh sống nổi trên mặt nước, các loại côn trùng sống trên mặt nước dùng Vợt ao (Pond Net) thu mẫu. Sử dụng panh, thìa và khay nhôm để nhặt vật mẫu.

Hình 1: Thu mẫu định tính

Thu mẫu định lượng

 Thu mẫu vật động vật đáy (ĐVĐ) trong rừng ngập mặn được áp dụng theo phương pháp điều tra nghiên cứu vùng triều của Gurjanova thực hiện trên vùng triều vịnh Bắc Bộ (1961), theo English và cộng sự (1997) áp dụng cho các hệ sinh thái nhiệt đới. Tại mỗi mặt cắt khảo sát chọn các điểm khác nhau theo chiều dốc bãi, độ xa bờ và độ cao thủy triều. Tại mỗi điểm, mẫu được thu lặp lại 3 lần. Sử dụng khung diện tích 50*50cm2 để thu trực tiếp mẫu ĐVĐ, mẫu vật sẽ được rây qua lưới có kích thước mắt lưới 500μm.

Hình 2: Thu mẫu định lượng

Toàn bộ vật mẫu sẽ được bảo quản trong lọ nhựa có dung tích từ 400 - 1000 ml và được cố định ngay tại hiện trường bằng cồn 70% hoặc formol 7-8%.

2.3.2. Phương pháp định loại

Mẫu ĐVĐ sẽ được định loại tại phòng thí nghiệm theo từng nhóm taxon, chủ yếu dựa theo các tài liệu định loại: Brandt (1974), Imajima (1967, 1972), Fauvel (1953), Hayward & Ryland (1996), Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn miên (1980), Liu Ruiyu Zhong Zhenru và cộng sự (1986), Trương Tỷ và Tề Trung Nhạn (1960).

Độ phong phú của ĐVĐ: Độ phong phú sẽ được thể hiện qua mật độ cá thể trên 1 đơn vị diện tích (số cá thể/m2).  Mật độ ĐVĐ trung bình tại mỗi điểm là trung bình cộng mật độ ĐVĐ của ba mẫu phụ thu tại điểm đó.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.Thành phần loài động vật đáy

Kết quả định loại thành phần loài động vật đáy rừng ngập mặn Việt Nam đã xác định được 206 loài thuộc 70 họ, 15 bộ, 5 lớp Gastropoda, Bivalvia, Polychaeta, Oligochaeta, Crustacea.

Các loài động vật đáy trong rừng ngập mặn chủ yếu thuộc 2 lớp Gastropoda và Bivalvia của ngành Mollusca và lớp Crustacea của ngành Arthropoda. Đây cũng chính là các loài mang lại giá trị kinh tế cao, được khai thác và nuôi trồng nhiều trong các hệ sinh thái RNM của nước ta. Số lượng loài của các lớp Gastropoda, Bivalvia, Crustacea, Polychaeta, Oligochaeta lần lượt là 86, 64, 43, 9, 4 loài tương ứng với tỷ lệ 41,75%; 31,07%; 20,87%; 4,37% và 1,94% (Hình 3).

Hình 3. Thành phần loài động vật đáy rừng ngập mặn

Trong số 206 loài động vật đáy thu được, đã xác định được có 32 loài có giá trị kinh tế. Trong đó, lớp Giáp xác (Crutacea) có 23 loài, trong đó cua ghẹ có 5 loài,  tôm có 18 loài, đó là: Ghẹ xanh (Portunus pelagicus (Linnaeus, 1766)); ghẹ đốm (Portunus trituberculatus (Miers, 1876)); ghẹ ba chấm (Portunus sanguinolentus (Herbst, 178)); cua bùn (Scylla paramamosain Estampador, 1949); cua biển (Scylla serrata Forskal, 1755); tôm sú (Penaeus monodon(Fabricius, 1798); tôm chì (Metapenaeus affinis (Milne -Edwards, 1873); tôm vàng (Metapenaeus joyneri (Miers, 1880)); tôm nghệ (Metapenaeus brevicornis (Mil. –Edw., 1837); tôm rảo (Metapenaeus ensis (de Haan, 1844)); tôm sắt (Parapenaeopsis cornuta (Kishiinouye, 1900)); tôm sắt cứng (Parapenaeopsis hardwickii (Miers, 1878)),tôm sắt hoa(Parapenaeopsis hungerfordi (Alcock, 1905));tôm sắt rằn(Parapenaeopsis sculptilis (Heller, 1862));tôm sắt láng(Parapenaeopsis tenella (Bate, 1888)); tôm he Ấn Độ (Penaeus indicus (H.Milne – Edwards, 1837));tôm he Nhật Bản (Penaeus japonicus (Bate, 1888)); tôm bạc gân (Penaeus latisulcatus (Kishinouy, 1896)); tôm bạc thẻ (Penaeus merguienis de Man, 1888); tôm nương (Penaus orientalis Rishinouye, 1918); tôm thẻ (Penaeus semisulcatus (de Hann, 1850));tôm tít (Squillidae sp.). Lớp Thân mềm (Mollusca) có 10 loài, đó là: sò hình cầu(Anadara globosa (Reeve, 1844)); sò huyết(Anadara granosa (Linnaeus, 1758)); sò huyết nôđi (Anadara nodifera (Martens, 1860)); sò lông(Anadara subcrenata (Lienschke, 1869)); ngao đầu sọc đỉnh(Meretrix lusoria (Roding, 1798)); ngao dầu - ngao vân(Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758)); vạng(Geloina coaxans (Gmelin, 1791)); ốc đĩa(Neria balteata  Reeve, 1855); ốc đỏ môi - ốc chân châu(Neritina violacea (Gmelin, 1791)); ốc vùng triều thô(Littoraria scabra (Linnaeus, 1758)).

Hình 4: Nguồn lợi động vật đáy trong RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

Mật độ động vật đáy khu vực Nam bộ đạt giá trị cao nhất, thấp nhất là khu vực Bắc bộ, không có sự khác biệt lớn giữa khu vực Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ. Mật độ động vật đáy khu vực Nam bộ, Nam Trung bộ, Bắc Trung bộ và Bắc bộ lần lượt là 42,45; 29,65; 29,02 và 26,65 cá thể/m2 (Hình 5).

Hình 5. Mật độ động vật đáy rừng ngập mặn

Khu vực Nam bộ có chỉ số đa dạng loài Shannon Weiner  (H’) cao hơn các khu vực khác. Chỉ số H’ của khu vực Nam bộ, Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ lần lượt là 2,88; 2,54; 2,53; 2,38  tương đương với mức độ đa dạng sinh học trung bình khá.

4. KẾT LUẬN

Đã xác định được 206 loài động vật đáy thuộc 70 họ, 15 bộ, 5 lớp Gastropoda, Bivalvia, Polychaeta, Oligochaeta, Crustacea. Trong đó có 32 loài có giá trị kinh tế thuộc lớp Giáp xác (Crustacea) và 10 loài thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda).

Đa dạng sinh học động vật đáy trong hệ sinh thái  rừng ngập mặn khu vực Bắc bộ, Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ ở mức khá. Khu vực Nam bộ có số lượng loài và chỉ số đa dạng loài Shannon Weiner của động vật đáy cao hơn so với khu vực Bắc bộ, Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ.

Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Hải - Trung tâm sinh thái bảo vệ hồ chứa nước

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980), “Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt nam”, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

2.Trương Tỷ và Tề Trung Nhạn (1960), “Động vật thân mềm hai mảnh vỏ biển Đông”.

3. Brandt R.A.M. (1974), “The non-marine aquatic Mollusca of Thailand”, Archiv fur Molluskenkunde.

4. Fauvel P. (1953), “The fauna of India including Pakistan, Ceylon, Burma and Malaya, Annelida Polychaeta, Allahabad”.

5. Hayward P.J & Ryland J.S. (1996), “Handbook of Marine Fauna of North – West Europe”, Oxford University Press, IBN 0-19-854054-X.

6. Imajima M. (1967), “Errant Polychaeta Annelidis from Tsukumo Bay and Vicinity of Noto Pensisula, Japan”, Bulletin of the National Science Museum Tokyo, Vol.10, No.4, pp: 403-441.

7. Imajima M. (1972), “Review of Annelidis Worm the Japan, with Descriptions of Five New Species or Subspecies”, Bulletin of the National Science Museum Tokyo, Vol.15, No.1, pp: 37-153.

8. Rolando Garcia (1986), “Guide to Philippine flora and fauna, Gastropodas, Pelecypods”, Natural Resources Man Management Center - Ministry of Natural Resources and University of the Philippines, Vol.7, pp: 2-273.

9. Filipinas Natividad (1986), “Guide to Philippine flora and fauna, Annelids”, Natural Resources Man Management Center –Ministry of Natural Resources and University of the Philippines, Vol.7, pp: 275-334.

10. Ruiyu Zhong Zhenru et al (1986), “Penaeoid shrimps of the south China sea”, Agricultural Publishing House Beijing China.

 

Tin khác
Copyright belongs to the Institute of Ecology and Protection of the
Address: No. 267 Chua Boc - Dong Da - Ha Noi
Phone: (04) 3852 1162 Fax: (04) 3851 87 Email: vienbvct@vnn.vn
Any information copied from this website must clearly state the source www.vienbaovecongtrinh.vn
Designed by the Center for Irrigation Technology Software