Latest document





Counter
[lbl.thongke]: 13.955.308
Website Link
Main News Site
Một số điểm trong quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
Ngày tạo: 04/01/17

Theo FAO (1978), rừng cộng đồng hay quản lý rừng cộng đồng bước đầu đã được xác định là những cánh rừng được giao cho người dân địa phương trong các hoạt động lâm nghiệp, người dân địa phương vừa khai thác vừa bảo vệ rừng để tạo ra thu nhập cho cộng đồng.

Ở Việt Nam, quản lý rừng cộng đồng đã được xác định trong bối cảnh Việt Nam là các hình thức quản lý trong đó người dân địa phương cùng nhau quản lý nguồn tài nguyên tự nhiên trong ranh giới cồng đồng của họ mà tại đó họ đã quản lý theo phong tục lâu dài và/hoặc có quyền pháp lý (Wode và Bao Huy, 2009). Nghiên cứu của IUCN (2011) tại Việt Nam thừa nhận bốn dạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam:

1. Cộng đồng có quyết định giao rừng chính thức và có sổ đỏ (dạng 1a); cộng đồng có quyết định giao rừng nhưng chưa có sổ đỏ (dạng 1b).

2. Nhóm hộ tự quản lý rừng cộng đồng (dạng 2).

3. Cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng từ các công ty lâm nghiệp, đơn vị nhà nước, hiện nay có áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng (dạng 3).

4. Quản lý rừng cộng động theo tập tục, truyền thống (chưa được nhà nước công nhận về mặt pháp lý) đã xuất hiện từ trước những năm 1960 (dạng 4)

Trong vòng 15 năm, từ năm 1995 - 2010, một số dự án quốc tế tại Việt Nam đã thúc đẩy quản lý rừng cộng đồng góp phần vào quản lý rừng bền vững và xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là đối với các cộng đồng thiểu số sống dựa vào rừng. Khoảng hơn 20% (2,6 triệu ha) rừng của Việt Nam có thể đã được cộng đồng quản lý. Việc quản lý rừng cộng đồng đã bị hạn chế do chất lượng rừng giao cho cộng đồng còn thấp, chủ yếu là rừng nghèo. Hiệu quả mà quản lý rừng cộng đồng mang lại chưa rõ rệt, một số người dân cho rằng sinh kế mang lại từ hoạt động nông nghiệp cao hơn hoạt động từ rừng cộng đồng.

Tính đến năm 2015, đã có nhiều cánh rừng thuộc sự quản lý của Ủy ban nhân dân xã và một số tổ chức đã được giao cho cộng đồng quản lý, nâng tổng số diện tích rừng cộng đồng ước tính khoảng 3,3 triệu ha rừng cộng đồng, tức 25% tổng diện tích rừng của Việt Nam. Giai đoạn 2015 - 2025, quản lý rừng cộng đồng tiếp tục được mở rộng, nâng cao chất lượng diện tích rừng cộng đồng quản lý tạo sinh kế bền vững cho người dân (Ngô Tùng Đức, 2015).

Như vậy, tuy chưa mang lại hiệu quả kinh tế tức thì nhưng quản lý rừng cộng đồng đã gắn quyền lợi và trách nhiệm bảo vệ rừng với người dân. Do đó, về mặt sinh thái, quản lý rừng cộng đồng góp phần bảo vệ và nâng cao diện tích rừng.

                                                                        KS. Nguyễn Nguyên Hằng

                                                                  Trung tâm Sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước

Tin khác
Copyright belongs to the Institute of Ecology and Protection of the
Address: No. 267 Chua Boc - Dong Da - Ha Noi
Phone: (04) 3852 1162 Fax: (04) 3851 87 Email: vienbvct@vnn.vn
Any information copied from this website must clearly state the source www.vienbaovecongtrinh.vn
Designed by the Center for Irrigation Technology Software