Hotline: 090 343 6383

(WIP) - Rừng ngập mặn hình thành nên môi trường sống quan trọng giữa đất liền và biển ở các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hệ thống rễ cây ngập mặn cung cấp nơi ở cho các loài sinh vật cộng sinh rễ và loài động vật đáy di động như cá, giáp xác.

1. Phân bố

  (WIP) - Loài giáp xác chân đều Sphaeroma terebrans hại cây ngập mặn được mô tả lần đầu tiên được thu thập ở Ấn Độ. Hiện nay, loài này đang gây hại rừng ngập mặn ở trên toàn thế giới bao gồm Úc, Sri Lanka, Đông Phi, Nam Phi, Costa Rica, Brazil và các vùng vịnh của Hoa Kỳ và nhiều nơi khác. Loài giáp xác này có biên độ sinh thái rộng, thường gây hại cho các loài cây thuộc chi Đước (Rhizophora) ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Loài này cũng được Baratti (2005) ghi nhận sự phân bố ở dọc bờ biển của Việt Nam. Tháng 4 năm 2017, Phạm Quang Thu phát hiện loài giáp xác này xuất hiện và đục rễ, thân cây Đước và một số loại cây ngập mặn khác tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (Phạm Quang Thu, 2017). Đến tháng 11 năm 2017, Trịnh Văn Hạnh và cộng sự phát hiện loài này hại cây Bần trắng (Sonneratia alba J.Smith, 1816) trên 3 tuổi với diện tích gây hại trên 10ha tại khu vực đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định.

Hình 1. Phân bố của S. terebrans theo Baratti và cộng sự, 2004

(Các nét đậm trên hình)

2. Đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài giáp xác chân đều 

S.terebrans đục rễ, thân cây ngập mặn như đước, mắm, vẹt, bần… thành các lỗ có đường kính 0,4 đến 0,6 cm làm nơi trú ẩn, sinh sản và bắt các sinh vật nhỏ sống phù du trong nước làm thức ăn. Loài giáp xác này không ăn mô cây ngập mặn, nhưng đục rễ, làm giảm khả năng sinh trưởng của rễ (Perry, 1988, Brooks và Bell, 2002), thậm chí làm teo hoặc đứt rễ (Rehm và Humm, 1973). Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng loài giáp xác chân đều này có thể làm đổ cây (Rehm và Humm, 1973), thay đổi về mặt hình thái học của cây (Davidson và cộng sự, 2014), hoặc biến đổi cấu trúc rễ và cây ngập mặn (Simberloff và cộng sự, 1978, Brooks và Bell 2002).

Do S. terebrans phá hoại rễ và ngăn cản rễ bám vào thể nền (Rehm and Humm 1973), nên chúng có thể làm thay đổi môi trường rễ cây ngập mặn cho các loài sinh vật biển và có khả năng hạn chế sự mở rộng của cây ngập mặn về phía biển. Ngoài sử dụng các sinh vật nhỏ sống phù du làm thức ăn, một số bằng chứng cho thấy loài giáp xác này cũng sử dụng xenlulo trong quá trình đào hang làm nguồn thức ăn.

Chế độ thủy triều tại khu vực trồng cây ngập mặn có ảnh hưởng lớn đến mức độ gây hại của S. terebrans. Svavarsson và cộng sự (2002) và Phạm Quang Thu (2017) chỉ ra rằng cây ngập mặn ở vùng ngập triều thấp bị gây hại ít hơn. Khi trồng cây trên các vùng có thời gian ngập triều lâu, tảo và rêu mọc nhiều, cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển kém, S. terebrans sinh trưởng mạnh, dẫn đến cây bị hại nặng.

 Hình 2: Triệu chứng gây hại của S. terebrans trên thân bần trắng Sonneratia alba

3. Giải pháp quản lý

          Hiện tại chưa có giải pháp hữu hiệu để trừ loài S. terebrans hại cây ngập mặn. Việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ loài giáp xác chân đều này là không khả thi do ảnh hưởng đến môi trường hệ sinh thái bãi triều, cửa sông và các loài động vật giáp xác khác. Biện pháp trước mắt tại các khu vực rừng ngập mặn bị loài giáp xác này gây hại là cần chặt bỏ và thu gom các cây ngập mặn bị chết đưa lên bờ tiêu hủy, để giảm mật độ loài giáp xác và tránh lây lan sang diện tích rừng xung quanh. Ngoài ra, có thể làm giảm mật độ loài S. terebrans bằng cách đặt bẫy là các tấm xốp dầy ghim ngập dưới nước sát mặt bùn để dẫn dụ loài này đến đục lỗ, kiểm tra định kỳ hàng tuần và thu bắt giáp xác trong các hang của tấm xốp (Phạm Quang Thu, 2017).

Người viết: Trần Thị Lợi

Trung tâm Sinh học và Bảo vệ đê

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Baratti, M., Goti, E., Messana, G., 2005. High level of genetic differentiation in the marine isopod Sphaeroma terebrans (Crustacea Isopoda Sphaeromatidae) as inferred by mitochondrial DNA analysis. Journal of Experimental Marine Biology and Ecology 315 (2005) 225 – 234.
  2. Brooks, R. A., and S. S. Bell. 2002. Mangrove response to attack by a root boring isopod: root repair versus architectural modification. Marine Ecology Progress Series231:85–90.
  3. Davidson, T. M., C. E. de Rivera, and H. L. Hsieh. 2014. Damage and alteration of mangroves inhabited by a marine wood‐borer. Marine Ecology Progress Series516:177–185.
  4. Perry, D. M. 1988. Effects of associated fauna on growth and productivity in the red mangrove. Ecology69:1064–1075.
  5. Rehm, A. E., and H. J. Humm. 1973. Sphaeroma terebrans: a threat to the mangroves of southwestern Florida. Science182:174–175.
  6. Simberloff, D., B. Brown, and S. Lowrie. 1978. Isopod and insect root borers may benefit Florida mangroves. Science201:630–632.
  7. Svavarsson, J., Osore, M. K. W., and Oslafsson, E., 2002. Does the wood-borer Sphaeroma terebrans (Crustacea) Shape the distribution of the mangrove Rhizophore mucronata?
  8. Phạm Quang Thu, 2017. Xác định nguyên nhân gây chết rừng đước tại Bình Sơn, Quảng Ngãi. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.     

 

(WIP) - Singapore là một trong những nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, người dân Sigapore vẫn thường xuyên phải đối mặt với dịch sốt xuất huyết do mức độ đô thị hóa cao, mật độ dân số cao, khả năng miễn dịch thấp, nền du lịch phát triển mạnh và hoạt động với cường độ cao, cùng với đó là sự hiện diện của muỗi Aedes (muỗi vằn) mang virut Dengue gây bệnh sốt xuất huyết ở người với đặc tính thích sống trong nhà, gần người (ví dụ như ở gần tủ quần áo, chăn màn) và chỉ đẻ trứng ở những dụng cụ chứa nước sạch hay chậu cây cảnh… của chúng.

(WIP) - Loài kiến ​​lửa đỏ Solenopsis invicta Buren, là một trong những loài kiến ​​xâm lấn thành công nhất trên thế giới và được coi là một trong những loài ngoại lai xâm lấn tồi tệ nhất thế giới (Lowe et al. 2000). Có nguồn gốc từ Nam Mỹ, S. invicta đã lan truyền tới nhiều quốc gia và khu vực, bao gồm Hoa Kỳ, Úc, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao, v.v. (Ascunce et al. 2011) và cả Việt Nam (Bùi Tuấn Việt, 2008). Loài kiến ​​này có tiềm năng lớn để tiếp tục mở rộng phân bố (Morrison et al. 2004, 2005).

Hỗ trợ trực tuyến

Văn phòng: (024) 3852 1162
Hotline: (090) 343 6383
Phòng trừ sinh vật hại: (093) 672 3099
Mua bả, chế phẩm: (090) 454 5244
Email: vienbvct@vnn.vn