Hotline: 090 343 6383

(WIP) - Ngày 18/4/2017,  Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình đã tổ chức Hội thảo về “Kiểm soát sinh vật hại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghị Sơn” tại Hội trường tầng 4 của Viện.

Đến tham dự hội thảo có các Giáo sư,  các nhà Khoa học và các chuyên gia về từng nhóm đối tượng sinh vật hại bao gồm: côn trùng, chim, chuột, bò sát…

Tại hội thảo, các đại biểu đã được nghe cán bộ của Viện trình bày các báo cáo: (1)  Báo cáo kết quả khảo sát sinh vật hại tại nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn;  (2) Báo cáo biện pháp kiểm soát nhóm côn trùng hại (mối, kiến, gián, ruồi, muỗi, ong); (3) Báo cáo biện pháp kiểm soát sinh vật hại khác (rắn, thạch sùng, chim, chuột).

Sau khi nghe cán bộ Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình trình bày về đặc điểm hiện trạng khu vực Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn cũng như đưa ra phương án xử lý sinh vật hại tại đây, các chuyên gia đã tích cực đóng góp ý kiến và cơ bản thống nhất với các giải pháp kiểm soát sinh vật hại của Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình.

Ông Vũ Quốc Trung, Viện Công nghệ sau thu hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là người có hơn 40 năm làm về xử lý các đối tượng sinh vật hại như chuột, rắn, dơi… cho rằng công tác khảo sát cần được thực hiện theo mùa vụ để đảm bảo phát hiện kịp thời và đầy đủ tất cả các đối tượng sinh vật hại có trong nhà máy cũng như có khả năng xâm nhập gây hại trong nhà máy. Với đặc điểm diện tích rộng lớn và môi trường xung quanh có nhiều hệ sinh thái khác nhau, việc khảo sát mở rộng ra môi trường xung quanh và lấy phiếu điều tra từ người dân là hết sức quan trọng trong việc xây dựng các giải pháp kiểm soát sinh vật hại cho nhà máy.

Thay mặt đơn vị chủ trì, PGS.TS. Trịnh Văn Hạnh, Viện trưởng Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình gửi lời cám ơn đến các nhà khoa học, các chuyên gia đã nhiệt tình góp ý cho các báo cáo tại hội thảo và kết luận: Nhóm thực hiện nhiệm vụ kiểm soát sinh vật hại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn sớm tổ chức đợt khảo sát tiếp theo có mời các chuyên gia cùng tham gia; Giao nhiệm vụ cụ thể đến từng người chịu trách nhiệm về từng sinh vật (nhóm sinh vật) hại và làm việc với chuyên gia xây dựng biện pháp xử lý chi tiết, cụ thể cho từng đối tượng sinh vật hại tại từng khu vực cụ thể trong Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, đảm bảo công tác kiểm soát sinh vật hại tại đây được hiệu quả và an toàn.

ThS. Trần Thị Thu Huyền 

Trung tâm Nghiên cứu Phòng trừ mối

Ngày 26/6/2017, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt dự án khoa học và công nghệ cấp tỉnh Ứng dụng quy trình phòng trừ mối để bảo vệ một số công trình di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh của tỉnh Phú Thọ”. Dự án được giao cho Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình là đơn vị chủ trì thực hiện và ThS. Nguyễn Minh Đức là chủ nhiệm dự án.

- Mục tiêu dự án: mở rộng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cấp tỉnh về việc áp dụng quy trình phòng trừ mối đạt hiệu quả cao, thân thiện với môi trường nhằm thay thế công nghệ sử dụng nhiều hóa chất tại các công trình di tích cấp Quốc gia và cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước hàng năm cho việc tu sửa các công trình di tích bị mối xâm hại.

- Nội dung của dự án:

+ Khảo sát, đánh giá tình hình mối gây hại tại công trình di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh; Xây dựng kế hoạch triển khai phòng trừ mối hại cho các công trình di tích cấp Quốc gia và cấp tỉnh;

+ Triển khai ứng dụng quy trình phòng trừ mối tại 10 công di tích cấp quốc gia và 02 di tích cấp tỉnh;

+ Hội thảo, thông tin tuyên truyền về kết quả triển khai dự án; Tổ chức tập huấn, hướng dẫn quy trình công nghệ phòng trừ mối cho các cán bộ quản lý tại các di tích trên địa bàn tỉnh hoặc cán bộ văn hóa cấp tỉnh, xã, phường, thị trấn.

- Thời gian thực hiện: 18 tháng (từ tháng 7/ 2017 đến tháng 12/ 2018)./.

ThS. Nguyễn Thị My

Phòng thí nghiệm Sinh hóa và Diệt trừ mối

(WIP) - Vùng triều ven biển đồng bằng sông Cửu Long được chia thành 3 khu vực với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các mô hình sinh thái mang nét đặc trưng riêng. Tuy nhiên, trước những tác động tiêu cực của con người và hiện tượng biến đổi khí hậu, hệ sinh thái vùng triều ven biển đồng bằng sông Cửu Long hiện nay có nhiều khu vực bị xói lở nghiêm trọng, rừng ngập mặn bị suy thoái và thu hẹp dần, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm, năng suất và hiệu quả các mô hình nuôi trồng thủy sản thấp. Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình sinh thái bền vững trên vùng triều ven biển đồng bằng sông Cửu Long” nhằm mục tiêu  xây dựng và phát triển bền vững một số mô hình sinh thái vùng triều ven biển đồng bằng sông Cửu Long, góp phần tạo sinh kế và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư địa phương.

Để đạt mục tiêu đã đề ra của đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình sinh thái bền vững trên vùng triều ven biển đồng bằng sông Cửu Long”, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn (Đại học Sư phạm Hà Nội), Phân viện Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung Bộ (Viện Nuôi trồng Thủy sản I) thực hiện khảo sát thực địa đợt 1 từ ngày 16/7/2017 đến ngày 2/8/2017 tại các tỉnh ven biển Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang với các nội dung chính như sau:

- Điều tra hiện trạng hệ sinh rừng ngập mặn ven biển;

- Điều tra hiện trạng hệ sinh thái bãi bồi ven biển;

- Điều tra hiện trạng hệ sinh thái cửa sông;

- Điều tra hiện trạng hệ sinh thái nuôi trồng thủy sản.

Quan trắc bồi xói tại xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

Điều tra hiệu quả kinh tế, xã hội của mô hình sinh thái nuôi trồng thủy sản tại xã Vân Khánh Đông, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

Kết quả bước đầu đã thu được các số liệu về: cấu trúc, quy mô rừng ngập mặn, tình hình xói lở ven biển, đa dạng sinh học của hệ sinh thái vùng triều và một số mô hình nuôi trồng thủy sản điển hình tại các khu vực khảo sát làm cơ sở phục vụ cho công tác nghiên cứu tiếp theo./.

ThS. Hoàng Thị Linh Giang

Trung tâm Sinh học Bảo vệ đê

(WIP) - Trước yêu cầu thực tế cũng như tính cấp thiết trồng cây ven hồ, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình đã phê duyệt và giao cho Trung tâm Sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn một số loài thực vật trồng ven hồ khu vực ngoại thành Hà Nội”. Thời gian thực hiện từ tháng 6/2017 đến tháng 7/2018. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- Xác định được điều kiện gây trồng một số loài thực vật ven hồ;

- Chọn được 2 loài thực vật thân gỗ, 3 loài cây bụi có hoa trồng được vùng đất bán ngập ven hồ;

- Chọn được 2 loài thực vật thân gỗ, 3 loài thực vật thân thảo, có hoa trồng trên cạn ven hồ và xây dựng được 01 mô hình trồng cây ven hồ ngoại thành Hà Nội, có diện tích 400 m2.

Hiện trạng hồ Đồng Mô, thị xã Sơn Tây, Hà Nội

Trong thời gian từ ngày 27/6 đến ngày 24/7/2017 Trung tâm Sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước đã tổ chức đoàn nghiên cứu thực hiện điều tra, khảo sát thực địa tại 3 hồ chứa nước vùng ngoại thành Hà Nội: hồ Suối Bơn (xã Tản Lĩnh,  huyện Ba Vì), hồ Đồng Mô (thị xã Sơn Tây) và hồ Cửa Khâu (xã Đông Xuân, huyện Quốc Oai).

Trong đợt khảo sát, đoàn đã thu thập được các thông tin về hiện trạng, công tác quản lý 3 hồ ngoại thành Hà Nội, xác định được đặc điểm tự nhiên liên quan đến trồng cây ven hồ như: đặc điểm địa hình (độ cao, độ dốc ven hồ); đặc điểm thủy văn (dao động mực nước, độ sâu, chế độ ngập, đặc điểm nguồn nước...), đặc điểm đất ven hồ, đặc điểm thành phần loài thực vật ven hồ.

Đây là kết quả bước đầu để phân tích, đánh giá hiện trạng quản lý, điều kiện lập địa, thảm thực vật ven hồ là cơ sở khoa học để phân chia dạng lập địa, đề xuất giải pháp chọn loài, lựa chọn kỹ thuật lâm sinh để cải thiện thảm thực vật ven hồ. 

NCS. Đỗ Quý Mạnh

Trung tâm Sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước

(WIP) - Ngày 02/8/2017, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình đã tổ chức hội thảo khoa học: Cơ sở khoa học để xây dựng mô hình nuôi sá sùng khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận thuộc Nhiệm vụ  Khoa học và Công nghệ độc lập cấp Quốc gia “Nghiên cứu tổng thể sông Trường Giang và vùng phụ cận phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam” do TS. Nguyễn Quốc Huy là Chủ nhiệm đề tài.

Tham dự hội thảo có các chuyên gia, các nhà khoa học đến từ các trường đại học, các viện, trung tâm nghiên cứu như Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản; Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản; Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Động lực học sông biển;...

Toàn cảnh hội thảo

Thư ký đề tài và các thành viên trong nhóm thực hiện đề tài trình bày các nội dung liên quan đến cơ sở khoa học để xây dựng mô hình phục hồi hệ sinh thái, bao gồm các chuyên đề sau:

1.   Cơ sở khoa học xây dựng mô hình hình kinh tế xanh khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận;

2.   Cơ sở khoa học xây dựng mô hình nuôi Sá sùng tại bãi bồi ven sông Trường Giang;

3. Thiết kê mô hình nuôi Sá sùng tại bãi bồi ven sông Trường Giang.

Đây là các nội dung chính, làm cơ sở khoa học để xây dựng mô hình nuôi sá sùng tại sông Trường Giang.

TS. Ngô Xuân Nam trình bày báo cáo đề dẫn

Các đại biểu tham dự hội thảo nhất trí cao với việc cần thiết phải nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng mô hình nuôi Sá sùng khu vực sông Trường Giang và vùng phụ cận. Vùng cửa sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam có những điều kiện phù hợp cho việc nuôi sá sùng như nguồn nước và nền đáy chưa bị ô nhiễm, nguồn thức ăn tự nhiên phong phú. Mô hình này có thể coi là mô hình kinh tế xanh vì mô hình khi thành công sẽ tạo ra nguồn sinh kế ổn định cho người dân, góp phần làm sạch môi trường nước và có thể nhân rộng trong tương lai.

 Trong buổi hội thảo, các nhà khoa học đã góp ý và thảo luận: Cần xác định chính xác tên khoa học của loài Sá sùng trong mô hình; lựa chọn vị trí xây dựng mô hình cần lưu ý các đặc điểm về nền đáy, bùn, chế độ động lực, thủy triều; mật độ nuôi thả; thức ăn cho Sá sùng; thời gian và cách thức thu hoạch sá sùng.

PGS.TS. Trịnh Văn Hạnh tổng kết hội thảo

Sau khi nghe các ý kiến của các nhà khoa học, các thành viên thực hiện đề tài, PGS.TS. Trịnh Văn Hạnh tổng kết hội thảo: Chủ nhiệm đề tài và các thành viên thực hiện đề tài tiếp thu các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, định loại cụ thể Sá sùng ở huyện Núi Thành, bổ sung cơ sở khoa học làm rõ tập tính và ngưỡng sinh thái của Sá sùng, làm cơ sở để triển khai xây dựng mô hình trong thời gian tới.

TS. Nguyễn Quốc Huy - Chủ nhiệm đề tài chân thành cảm ơn các ý kiến quý báu của các nhà khoa học đầu ngành và khẳng định đây là những vấn đề rất quan trọng để đề tài tiếp tục hoàn thiện cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện các nội dung chính của đề tài./.

KS. Nguyễn Nguyên Hằng

Trung tâm Sinh thái Bảo vệ hồ chứa nước

Chuyên mục phụ

Hỗ trợ trực tuyến

Văn phòng: (024) 3852 1162
Hotline: (090) 343 6383
Phòng trừ sinh vật hại: (093) 672 3099
Mua bả, chế phẩm: (090) 454 5244
Email: vienbvct@vnn.vn