Latest document





Counter
[lbl.thongke]: 13.999.697
Website Link
Main News Site
Phân bố các loài cây ngập mặn ở Việt Nam
Ngày tạo: 13/07/12
Ở nước ta, Phan Nguyên Hồng là người đầu tiên đã đề cập đến phân bố địa lý và diễn thế các quần xã rừng ngập mặn, ngoài ra một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu vấn đề này như: Vũ Văn Cương, Nguyễn Ngọc Bình, Ngô Đình Quế, Nguyễn Hoàng Trí, Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiển, Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi, Thái Văn Trừng

          Sự có mặt của một loài thực vật ngập mặn ở một vùng cụ thể nào đó tùy thuộc vào điều kiện sinh thái khu vực. Ở nước ta, Phan Nguyên Hồng là người đầu tiên đã đề cập đến phân bố địa lý và diễn thế các quần xã rừng ngập mặn, ngoài ra một số tác giả khác cũng đã nghiên cứu vấn đề này như: Vũ Văn Cương, Nguyễn Ngọc Bình, Ngô Đình Quế, Nguyễn Hoàng Trí, Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiển, Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi, Thái Văn Trừng, v.v... Theo các tác giả, rừng ngập mặn Việt Nam được chia thành 4 khu vực:

Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

Bờ biển bị chia cắt phức tạp tạo nên các vịnh ven bờ và các cửa sông hình phễu, có nhiều đảo bảo vệ, hạn chế gió bão. Các sông chính thường có độ dốc lớn, dòng chảy mạnh chuyển phù sa ra bờ chỉ giữ lại trên thể nền đất bùn sét có cát, tương đối phù hợp với sự sinh trưởng của cây ngập mặn. Lượng mưa hàng năm khá lớn (trên dưới 2500mm), mùa mưa thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11; mùa khô cũng có mưa (chiếm 20 – 25% lượng mưa/năm), nhờ đó mà cây ngập mặn vẫn có một lượng nước phong phú và đồng đều. Độ mặn của nước triều trong năm tương đối cao và ít thay đổi phù hợp với một số loài cây chịu mặn cao.

Tuy thảm thực vật ngập mặn phân bố rộng khắp ở khu vực này nhưng cây có kích thước bé, phần lớn là cây nhỏ, cây gỗ lùn hoặc dạng cây bụi do chịu tác động của nhiệt độ thấp, gió mùa đông bắc và do đất nghèo chất dinh dưỡng, trừ khu vực phía bắc có nhiều phù sa, lượng mưa lớn và ít chịu tác động của con người. Các quần xã chủ yếu là:

·        Quần xã mắm biển (Avicennia marina) tiên phong với các loài cỏ gà, muối biển (Suaeda maritima) trên các bãi mới bồi nhiều bùn cát, xa bờ, ngập triều trung bình thấp.

·        Quần xã sú (Aegiceras corniculatum) ở gần bờ, có các loài phụ: mắm biển, cỏ gấu biển (Cyperus stoloniferus), trên các bãi ngập triều trung bình thấp.

·        Quần xã hỗn hợp đâng (Rhizophora stylosa), trang (Kandelia candel), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), sú trên đất ngập triều trung bình.

·        Quần xã vẹt dù ưu thế với các loài đâng, trang, sú ở trên đất chỉ ngập triều cao trung bình trở lên.

·        Quần xã cây gỗ trên đất chỉ ngập triều thật cao: xu (Xylocarpus granatum), cui biển (Heritiera littoralis), giá (Exoecaria agallocha), côi (Scyphiphora hydrophyllacea), tra (Hibiscus tiliaeus), hếp (Scaevola taccada), mướp sát (Cerbera odolans), vạng hôi (Clerodendron inerme).

·        Quần xã hỗn hợp gồm: mắm biển, bần chua (Sonneratia caseolaris), sú và các loài phụ đâng, vẹt, trang ở ngoài đê biển vùng nước lợ phía Nam từ sông Đá Bạc đến mũi Đồ Sơn.

Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường:

Khu vực này nằm trong phạm vi bồi tụ của hệ thống sông Thái Bình, sông Hồng và các phụ lưu, nên phù sa nhiều, giàu chất dinh dưỡng, biên độ triều lớn 3 – 4 m, bãi bồi rộng ở cả cửa sông và ven biển, nhưng chịu tác động của gió, bão nên cây ngập mặn kém phát triển. Ở khu vực này tốc độ quai đê lấn biển tương đối nhanh nên cây ngập mặn chỉ phân bố hẹp ngoài đê, ven các cửa sông. Các quần xã chính là:

·        Quần xã cây bụi thấp: sú (A. corniculatum) và ô rô (Acanthus ilicifolius) cằn cỗi trên nền cát bùn.

·        Quần xã cây nước lợ điển hình: bần chua ưu thế ở tầng cao; các loài cây khác: ô rô, cói (Cyperus malaensis), sú phân bố trên bãi lầy có bùn sâu, trong các cửa sông.

Từ cửa sông Văn Úc trở vào dọc bờ biển hầu như rất ít rừng ngập mặn tự nhiên, trên các bãi lầy chỉ có một số loài chịu mặn như cỏ gấu biển, cỏ gà, đặc biệt là cỏ ngạn (Scirpus sp.) phát triển mạnh, có khi che kín cả bãi, thu hút các loài ngỗng, vịt trời đến kiếm ăn thành từng đàn như ở Giao Thủy (Nam Định) và Kim Sơn (Ninh Bình). Từ lâu nhân dân ta đã trồng trang (Kendelia candel) và sậy (Phragmites communis) để bảo vệ đê, tạo thành quần xã nhân tạo trang – sậy với các loài cỏ mọc tự nhiên dài hàng chục cây số. Chỉ trong các cửa sông mới có các quần xã cây ngập mặn tự nhiên với các loài cây chủ yếu là sú và ô rô. Do nhân dân chặt quá mức nên rừng chỉ còn ở dạng cây bụi thấp, cằn cỗi.

Khu vực III: Ven biển miền Trung từ cửa Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu:

Đây là dải đất hẹp, trừ một phần phía bắc từ Diễn Châu (Nghệ An) trở ra, bờ biển song song với dãy Trường Sơn, sông ngắn, dốc, ít phù sa không thể bồi đắp thành bãi lầy ven biển. Mặt khác, do bờ biển dốc, sâu nên không giữ được lượng phù sa ít ỏi. Khu vực này cũng chịu tác động mạnh của gió bão và gió mùa. Mưa tập trung nhiều vào thời kỳ bão, gây ra nước biển dâng và lũ lụt. Gió mùa đông bắc ngoài tác động gây ra sóng lớn, nhiệt độ thấp, còn tạo ra các cồn cát, đụn cát ven biển, làm cho địa hình phức tạp và cát bay làm thu hẹp các cửa sông. Dọc bờ biển không có cây ngập mặn mà chỉ có ở phía trong các cửa sông làm thành một số dải hẹp, phân bố không đều, do ảnh hưởng của địa hình, sóng và tác động của các đụn cát. Các quần xã chủ yếu là:

-Quần xã tiên phong mắm biển dọc các bãi lầy ở các cửa sông

-Quần xã hỗn hợp đâng – trang với các loài khác là vẹt, sú.

-Quần xã cây bụi thấp: sú ưu thế; các loài phụ: vẹt dù, mắm biển.

-Quần xã cây nước lợ với bần chua ưu thế, dưới bần là ô rô, cói.

Từ mũi đèo Hải Vân trở vào, khí hậu thuận lợi do không còn chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên thành phần loài phong phú hơn.

-Quần xã đưng (R. mucronata) tiên phong ở bờ biển phía tây các bán đảo.

-Quần xã đưng và đước (R. apiculata) với các loài xu ổi, vẹt dù, vẹt tách (B. parviflora).

-Quần xã mắm quăn (A. lanata) và mắm lưỡi đòng (A. offcinalis) trên đất ngập triều cao với các loài phụ: côi (Scyphiphora hydrophyllacea), cóc đỏ (Lumnitzera littoralis), dà quánh (Ceriops decandra).

-Quần xã hỗn hợp cây ít ngập triều: tra – xu – mướp sát – giá với các loài vạng hôi, hếp, cui và chà là (Phoenixpaludosa).

-Quần xã nước lợ: bần chua vẫn là loài ưu thế, ô rô gai, cói, ngoài ra còn có mây nước (Flagellaria indica), cóc kèn (Derris trifoliata).

Khu vực IV: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến Hà Tiên:

Khu vực này thuộc phạm vi bồi tụ của hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Đồng Nai. Địa hình bằng phẳng, thấp, sông và kênh rạch chằng chịt, nhiều phù sa giàu chất dinh dưỡng, lượng nước ngọt về mùa mưa lớn, ít chịu tác động của bão. Gió mùa tây nam và dòng chảy từ Ấn Độ Dương và biển Đông đã chuyển hạt cây giống từ vùng xích đạo lên. Nói chung, điều kiện khá thuận lợi cho cây ngập mặn sinh trưởng và phân bố rộng, các quần xã cũng phong phú nhất, đặc biệt là các vùng ven biển Tây Nam Bộ và bán đảo Cà Mau. Khu vực này có các tiểu vùng với các cây ngập mặn chính như sau:

- Tiểu vùng 1: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng sông Cửu Long): Mắm trắng (A. alba), bần trắng (Sonneratia alba), đưng (R. mucronata), đước (R. apiculata), vẹt tách (Bruguiera paviflora), dà vôi (Ceriops tagal),  mắm biển (A. marina), mắm quăn (A. lantana), mắm đen (A. officinalis), dà quánh (C. decandra), giá (Excoecaria agollocha), chà là (Phoenix paludosa), bần chua (Sonneratia caseolaris), ô rô (Acanthus ilicifolius), dừa nước (Nypa fruticans), tra(Hibiscus tiliaceus), tra biển (Thespesia populnea), cóc vàng (Lumnitzera racemosa).

- Tiểu vùng 2: Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (tây nam bán đảo Cà Mau):  Mắm trắng (A. alba), mắm biển (A. marina), mắm đen (A. officinalis), đưng (R. mucronata), đước (R. apiculata), dà vôi (Ceriops tagal),  dà quánh (C. decandra), giá (Excoecaria agollocha), ô rô (Acanthus ilicifolius), dừa nước (Nypa fruticans),  cóc vàng (Lumnitzera racemosa), vẹt tách (Bruguiera sexangula).

- Tiểu vùng 3: Từ cửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nãi - Hà Tiên (bờ biển phía tây bán đảo Cà Mau): Mắm trắng (A. alba), mắm biển (A. marina), mắm đen (A. officinalis), bần trắng (Sonneratia alba), đước (R. apiculata), dà vôi (Ceriops tagal), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), giá (Excoecaria agollocha), bần chua (Sonneratia caseolaris), dừa nước (Nypa fruticans),  tra biển (Thespesia populnea), cóc vàng (Lumnitzera racemosa).

 

 

Copyright belongs to the Institute of Ecology and Protection of the
Address: No. 267 Chua Boc - Dong Da - Ha Noi
Phone: (04) 3852 1162 Fax: (04) 3851 87 Email: vienbvct@vnn.vn
Any information copied from this website must clearly state the source www.vienbaovecongtrinh.vn
Designed by the Center for Irrigation Technology Software