Latest document





Counter
[lbl.thongke]: 13.999.732
Website Link
Main News Site
Khu hệ động vật rừng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
Ngày tạo: 13/07/12
Khu BTTN Pù Luông được thành lập năm 1999, với diện tích 17.662 ha, gồm 13.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái

Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN)Pù Luông(20021’ - 20034’N, 105002’ - 105020’E) thuộc địa phận các huyện Bá Thước (các xã Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao) và Quan Hóa (các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm), nằm ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam, cách thành phố Thanh Hóa 130 km về phía Tây Bắc.

Khu BTTN Pù Luông được thành lập năm 1999, với diện tích 17.662 ha, gồm 13.320 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 4.343 ha phân khu phục hồi sinh thái. Pù Luông được đánh giá là khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị về khoa học, kinh tế xã hội và du lịch sinh thái. Cùng với Pù Hu, rừng ở khu vực Pù Luông đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa. Chính vì vậy dự án“Điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóađã được thực hiện từ 2012-2013.

Viện Sinh thái và Bảo vệ công trìnhđã thực hiện 01 chuyến điều tra vào tháng 3/2012.

-     Đoàn khảo sát được chia làm 02 nhóm: nhóm thực vật và động vật.

-     Thời gian: từ ngày 12 tháng 3 đến ngày 05 tháng 4 năm 2012

            Đoàn khảo sát thu mẫu thực vật đã thực hiện khảo sát, thu mẫu thực vật ở khu vực Ban Công, bản Tôm, bản Cao, bản Nủa, bản Cao Hoong, bản Pốn, bản Kịt, bản Hiêu, bản Khuyn, bản Ấm, bản Kho Mường, bản Báng, bản Pà Khà, bản Đôn.

Đoàn khảo sát thu mẫu động vật đã thực hiện khảo sát, thu mẫu côn trùng, chim, thú, lưỡng cư, bò sát, động vật nổi, động vật đáy, cá tại các khu vực Ban Công, bản Đủ, bản Trình, bản Cao, bản Hin, bản Nủa, bản Kịt, bản Báng, bản Hiêu, bản Kho Mường, bản Pà Khà, bản Đôn.

Đã tiến hành phân tích, định loại mẫu động vật rừng Khu bảo tồn. Kết quả cho thấy khu hệ động vật rừng của khu BTTN Pù Luông tương đối đa dạng, gồm: động vật nổi, động vật đáy, chim, thú, lưỡng cư, bò sát và cá.

Kết quả phân tích mẫu động vật nổi được thể hiện qua bảng 1.

Bảng 1. Cấu trúc thành phần loài động vật nổi

TT

Tên khoa học

Số lượng họ

Tỷ lệ (%)

Số lượng giống

Tỷ lệ (%)

Số lượng loài

Tỷ lệ (%)

 
 

1

Ngành Rotatoria

 

 

 

 

 

 

 

1.1

Lớp Eurotatoria

6

26,09

6

24,00

6

20,69

 

2

Ngành Arthropoda

 

 

 

 

 

 

 

2.1

Lớp Crustacea

17

73,91

19

76,00

23

79,31

 

Tổng

23

100

25

100

29

100

 

 

Từ bảng trên ta thấy, số lượng loài động vật nổi tại khu bảo tồn có 29 loài thuộc 23 họ của 2 lớp Eurotatoria và Crustacea. Lớp Crusstacea có số họ, số giống, số loài nhiều hơn lớp Eurotatoria.

Kết quả phân tích mẫu động vật đáy được thể hiện qua bảng 2.

Bảng 2. Cấu trúc thành phần loài động vật đáy

TT

Tên khoa học

Số lượng họ

Tỷ lệ (%)

Số lượng giống

Tỷ lệ (%)

Sô lượng loài

Tỷ lệ (%)

 
 

1

Ngành Arthropoda

28

75,68

34

69,39

42

67,74

 

1.1

Lớp Crustacea

4

10,81

4

8,16

7

11,29

 

1.2

Lớp Insecta

24

64,86

30

61,22

35

56,45

 

2

Ngành Mollusca

9

24,32

15

30,61

20

32,26

 

2.1

Lớp Bivalvia

1

2,70

1

2,04

3

4,84

 

2.2

Lớp Gastropoda

8

21,62

14

28,57

17

27,42

 

Tổng

37

100

49

100

62

100

 

 

Từ bảng trên ta thấy, trong cấu trúc thành phần loài động vật đáy tại khu vực lớp Insecta chiếm ưu thế, có 35 loài tương ứng với 56,45% tổng số loài. Lớp Bivalvia có ít nhất với 3 loài, tương ứng 4,84%, thuộc 1 giống, 1 họ.

Kết quả phân tích sơ bộ, đã xác định được 51 loài thuộc 3 họ trong bộ cánh vẩy. Kết quả phân tích được thể hiện qua bảng 3.

 

Bảng 3. Cấu trúc thành phần loài của bộ Cánh vẩy (Lepidoptera)

STT

Họ

Số loài

Tỷ lệ (%)

1

 Papilionidae

8

15,69

2

 Pieridae

12

23,53

3

Nymphalidae

31

60,78

 

Tổng

51

100

 

Qua kết quả phân tích nhận thấy họ Nymphalidae có số loài nhiều nhất, chiếm 60,78%. Họ Papilionidae có 8 loài chiếm 15,69%.

            Kết quả định loại sơ bộ xác định ở khu BTTN Pù Luông có 281 loài động vật có xương sống thuộc 199 giống, 87 họ, 25 bộ,nằm trong các lớp Thú (Mammalia); Chim (Aves); Bò sát (Reptilia); Lưỡng cư (Amphibia). Cụ thể:

            Lớp Chim có 153 loài thuộc 110 giống, 44 họ, 13 bộ;

            Lớp Thú có 75 loài thuộc 49 giống, 24 họ, 9 bộ.  

            Lớp Bò sát có 37 loài thuộc 28 giống, 13 họ, 2 bộ.

            Lớp Lưỡng cư có 16 loài thuộc 12 giống, 6 họ, 1 bộ.

Kết quả định loại sơ bộ khu hệ cá nước ngọt khu BTTN PùLuông thu được 25 loài thuộc 23 giống, 14 họ, 4 bộ (bảng 4).

Bảng 4. Cấu trúc thành phần loài cá

TT

Tên khoa học

Số lượng họ

Tỷ lệ

Số lượng giống

Tỷ lệ

Sô lượng loài

Tỷ lệ

(%)

(%)

(%)

1

Bộ Cypriniformes

3

21,43

11

47,83

11

44,00

2

Bộ Siluriformes

5

35,71

6

26,09

6

24,00

3

Bộ Synbranchifomes

2

14,29

2

8,70

2

8,00

4

Bộ Perciformes

4

28,57

4

17,38

6

24,00

Tổng

14

100

23

100

25

100

 

Kết quả phân tích cho thấy, tuy bộ Cypriniformes có số lượng loài nhiều nhất, chiếm 44%. BộSynbranchifomes chỉ có 2 loài thuộc 2 họ khác nhau.

Kết quả phân tích mẫu vật của đợt khảo sát lần 1 năm 2012 về cơ bản đã đánh giá sơ bộ được hệ động vật rừng khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Đợt thực địa tiếp theo dự kiến được tổ chức vào tháng 7 năm 2012 sẽ tiếp tục thu mẫu và hoàn chỉnh danh lục khu hệ động vật khu bảo tồn.

 

 

Copyright belongs to the Institute of Ecology and Protection of the
Address: No. 267 Chua Boc - Dong Da - Ha Noi
Phone: (04) 3852 1162 Fax: (04) 3851 87 Email: vienbvct@vnn.vn
Any information copied from this website must clearly state the source www.vienbaovecongtrinh.vn
Designed by the Center for Irrigation Technology Software