Latest document





Counter
[lbl.thongke]: 13.999.709
Website Link
Main News Site
Hiện trạng quần xã thực vật ở rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Nam Định
Ngày tạo: 02/05/12
Vườn Quốc gia Xuân Thủy tập trung một số loài cây ngập mặn phân bố ở miền Bắc và một số loài khác. Khác với các quần xã rừng ngập mặn tự nhiên ở Nam Bộ, rừng ngập mặn Giao Thuỷ có nguồn gốc là rừng trang trồng để bảo vệ đê biển. Ở những nơi bảo vệ rừng trồng tốt như Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ thì sau một số năm, thể nền được nâng cao lên, có nhiều loài khác đến định cư như sú, đâng, vẹt dù, mắm biển

1. Giới thiệu

Vườn Quốc gia Xuân Thủy tập trung một số loài cây ngập mặn phân bố ở miền Bắc và một số loài khác. Khác với các quần xã rừng ngập mặn tự nhiên ở Nam Bộ, rừng ngập mặn Giao Thuỷ có nguồn gốc là rừng trang trồng để bảo vệ đê biển. Ở những nơi bảo vệ rừng trồng tốt như Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ thì sau một số năm, thể nền được nâng cao lên, có nhiều loài khác đến định cư như sú, đâng, vẹt dù, mắm biển. Còn dọc theo bờ sông, các bãi ven cồn, bần chua tái sinh tự nhiên tạo ra kiểu rừng hỗn giao giữa trang trồng và các cây ngập mặn hoang dại. Dưới tán bần là ô rô mọc thành khóm. Khu vực vườn Quốc gia Xuân Thủy, có hai kiểu quần xã chính được mô tả như sau.

2. Các quần xã đặc trưng của Vườn Quốc gia Xuân Thủy, Nam Định

a. Quần xã sú + bần + mắm + ô rô (Aegiceras corniculatum + Sonneratia caseolaris + Avicennia marina + Acanthus ilicifolius)

 

Hình 1. Quần xã Sú – Bần – Mắm – Ô rô

Quần xã này phân bố tại phía bắc vườn Quốc gia, các loài cây này mọc hỗn giao xen kẽ nhau chia thành 3 tầng rõ rệt: tầng vượt tán là các cây bần, mọc rải rác dọc đường biên vươn lên khỏi tán rừng, cao 8-10m, phát tán nhanh có nhiều khả năng chiếm ưu thế trong tương lai của vườn Quốc gia. Tầng cây chính là tầng ưu thế sinh thái gồm 2 loại cây trang (K. obovata) và sú (Ae.corniculatum). Xen giữa 2 loài trên là mắm biển (A.marina) được nước triều phát tán đến nhưng nhờ sức cạnh tranh tốt nên cũng vươn lên tầng tán. Ở những nơi đất cao thì cốc kèn (Derris trifoliata) dựa vào các cây gỗ leo lên đỉnh tầng tán, đôi khi che phủ cả các tán khác (hình 1).

b. Quần xã rừng trồng trang (Kandelia obovata) – sú (Aegiceras corniculatum).

Sau 14 năm trồng và được bảo vệ, cây trong quần xã có độ cao trung bình 4-5m phân bố ở phía nam vườn Quốc gia Xuân Thuỷ. Rừng có 2 tầng, cây trang trồng (K.obovata) cùng với sú (Aegiceras corniculatum) tái sinh tự nhiên chiếm ưu thế ở tầng trên, tầng dưới là ô rô (Acanthus ilicifolius) và cói (Cyperus malaccensis).

Hình 2. Quần xã rừng trồng trang

Mặc dù các quần xã thực vật nơi đất bùn ngập triều, tự nhiên đều đặn có thành phần loài không nhiều, chỉ có 20 loài chính chiếm 10,4% tổng số loài nhưng chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ duy trì sự tồn tại và ổn định các quần xã thực vật khác như các quần xã ở chân đê, ven bờ đầm, hay nơi đất cao, trên các bờ đê, bờ đầm, nơi có số lượng loài chiếm tỷ lệ lớn nhất (hình 2).

c. Một số quần xã khác

Ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ có một diện tích nhỏ quần xã sú (Ae.corniculatum) – mắm biển (Avicennia marina). Đây là kiểu quần xã ít gặp ở khu vực ven biển đồng bằng sông Hồng vì vậy cần tiến hành bảo vệ kiểu ưu hợp này.

Ngoài ra, trên một số bãi đất cát cồn Lu phía ngoài biển của khu vực xã Giao Xuân xuất hiện một quần thể tương đối thuần loại mọc tự nhiên là mắm biển (Avicennia marina) dạng cây bụi. Mặc dù với diện tích không lớn nhưng chúng là điển hình cho các quần xã tiên phong, trên đất cát ngập triều, cần được bảo vệ và phát triển.

Ngược lại với rừng bán tự nhiên, tại khu vực rừng trồng trang xen lẫn bần chua, tầng thảm tươi chủ yếu là cây trang con tái sinh. Khu vực rừng trồng tại xã Giao Xuân, mật độ cây trang tái sinh từ 7-22 cây/m2. Khu vực rừng trồng xã Giao Lâm mật độ cây trang con tái sinh trung bình 13,5 cây/m2.

3. Nhận xét

Từ điều kiện tự nhiên và tính chất của rừng trang trồng tại vườn quốc gia Xuân Thủy, một số cây ngập mặn khác đã đến định cư trong khu vực rừng trồng và cả các vùng biên của rừng quốc gia, như là đai tiên phong của rừng ngập mặn và tạo nên các quần xã thực vật tại đây.

                                                                                     

                                                                          Tác giả: TS.Phạm Minh Cương, ThS.Trần Thị Lợi

 

 Trung tâm Bảo vệ đê, Viện Phòng trừ mối và bảo vệ công trình

Copyright belongs to the Institute of Ecology and Protection of the
Address: No. 267 Chua Boc - Dong Da - Ha Noi
Phone: (04) 3852 1162 Fax: (04) 3851 87 Email: vienbvct@vnn.vn
Any information copied from this website must clearly state the source www.vienbaovecongtrinh.vn
Designed by the Center for Irrigation Technology Software