Latest document





Counter
[lbl.thongke]: 13.999.746
Website Link
Main News Site
Đặc điểm của một số loài cây ngập mặn
Ngày tạo: 10/10/12
Lựa chọn đúng giống cây ngập mặn là một trong những yếu tố quyết định thành công của việc trồng cây chắn sóng bảo vệ đê biển.

Để chọn cây, người ta phải dựa vào điều kiện tự nhiên của bãi và đặc điểm sinh học sinh thái học của loài cây. Sau đây là đặc điểm chính của một số cây ngập mặn thường được chọn ở nước ta và các nước lân cận.

1.Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.)

1.1 Hình thái

Bần chua là cây thân gỗ có chiều cao từ 5 - 15m (có khi có cây cao tới 20m), không có trụ mầm, tán rộng, thân cây trơn. Rễ thở có chiều dài từ 50 đến 90cm, đường kính 7cm. Vỏ cây màu xám, bong từng mảng.

Lá đối, không có lá kèm, sát cuống, hình elip, hình thuôn hoặc hình ovan, dài từ 5 - 13cm, rộng từ 2 - 5cm, cuống lá hình búp măng, chóp lá hình tròn hoặc tù, liền với 8-12 gân lá lan rộng ở mỗi mặt lá, có lông tơ trên bề mặt lá. Hoa có 1-3 cánh rủ xuống, nở về đêm. Hoa có 6-8 lá đài, 6-8 cánh hoa, dài 2 - 3,5cm, rộng 1,5 - 3,5cm. có màu từ đỏ đậm hoặc đỏ tươi, có nhiều nhị, chỉ nhị dài từ 2,5 - 3,5cm, nhụy hoa có 16-21 tế bào noãn với rất nhiều noãn, vòi nhụy dài và bền.

1.2 Phân bố

Bần chua phân bố từ Sri Lanka đến bán đảo Malacca, miền bắc Australia, Sumatra, Java, Borneo, Celebes, Philippin, Việt Nam, Moluccas, Timor, New Guinea, đảo Solomon, New Hebrides.

1.3 Đặc điểm sinh thái

Bần chua phân bố ở vùng rừng ngập mặn nhiệt đới và á nhiệt đới nên cây này được đánh giá là có khả năng sinh trưởng ở vùng có lượng mưa hàng năm tương đối cao, nhiệt độ trung bình từ 20 - 27oC, pH từ 6,0 – 6,5, ở vùng có độ mặn thấp với đất bùn sâu, thường là vùng cửa sông với nước triều lên chậm.

2. Bần không cánh (Sonneratia apetalaBuch - Ham)

2.1 Hình thái

Bần không cánh là cây thân gỗ, vỏ màu đen trơn, gỗ màu xám, rễ thở thẳng đứng, hoa màu trắng, quả to hình cầu.

Lá đơn, đối, cuống lá ngắn, chéo chữ thập, hình elip hoặc hình thuôn, dạng trúng ngược, trục thon, cuống lá mảnh, kích thước lá 4 - 10 x 2 - 3 cm, lá dai, có phấn ở cả hai mặt lá.

Hoa mọc thành cụm dưới nách lá, hoa to, lưỡng tính, màu trắng hoặc trắng vàng,  có 4 lá đài, không có cánh hoa, có nhiều nhị, chỉ nhị hướng vào, có từ 2 - 20 tế bào noãn, đầu nhụy lớn, hình ô.

Rễ thở dài từ 60 - 150cm, hóa bần, phân ra 2-3 nhánh, liên kết với rễ trụ và rễ hút chất dinh dưỡng.

2.2 Phân bố

Bần không cánh phân bố ở Ấn Độ (từ Bombay đến Sunderbans), Sri Lanka, đảo Koddiyarstem, Myanmar và Moulmein.

2.3 Đặc điểm sinh thái.

Bần không cánh mọc thành cụm ở rừng ngập mặn vùng cửa sông, thường là cây tiên phong ở vùng đất ngập nước mới hình thành.

3. Mắm biển (Avicennia marina(Forsk.) Vierh.) 

3.1 Đặc điểm hình thái   

Mắm biển là cây thân gỗ cao 1-10m, đường kính thân đến 40cm. Có nhiều rễ thở ở bên trên, cao 10-15cm, đường kính 6mm. Vỏ thân cây có màu trắng đến màu xám hoặc xanh vàng, trơn, thường có bột phấn trên thân với những chấm nhỏ hình vảy, màu xanh lá ở trong thân. Lá mọc đối, hình ovan, hình mũi mác hoặc hình elip, dài 3,5 - 12cm, rộng 1,5 - 5cm, nhọn ở cả 2 đầu, màu xanh sáng ở mặt trên lá, mặt dưới lá có màu xám trắng và lông tơ. Cuống lá dài 5-10 mm, có lông. Hoa không có cuống, dài 5mm, rộng 5mm.

3.2 Phân bố

Mắm biển phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, từ Ai Cập và vùng bờ biển Ả rập ở biển Đỏ và tây Ấn Độ Dương, vùng bờ biển phía đông của biển Ả rập, vịnh Bengal, đông nam và bắc Ấn Độ Dương, vùng biển phía nam Trung Quốc đến Hồng Kông, Đài Loan, các đảo ở vùng biển của Philippin, biển San hô, Nam Thái Bình Dương, Tây Úc và New Zealand, Việt Nam...

3.3.3 Đặc điểm sinh thái

Mắm biển sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa trung bình hàng năm tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm 17 - 26oC, pH 6 - 8. Mắm biển thường là cây tiên phong ở vùng đất ngập nước, loài này là cây ưa bóng, ở vùng đất sét kiềm ở vùng bở biển và đầm lầy thường thấy loài này.

4. Mắm đen (Avicennia officinalisL.)

4.1 Đặc điểm hình thái

Mắm đen là cây thân gỗ, đôi khi bắt gặp cây cao tới 25m, đường kính thân đến 1m. Có nhiều rễ thở mọc lên khỏi mặt đất từ rễ ngang nông và dài. Vỏ thân cây ban đầu có màu xám nâu, mỏng, sau trở nên ráp và có màu đen, hoặc bên ngoài vỏ có màu xanh vàng, bên trong có màu trắng. Lá mọc đối, hình thuôn, dài 4-12cm, rộng 2-6cm, đầu lá tròn, mép lá hơi cuốn vào, mặt trên lá có màu xanh sáng và nhẵn, mặt dưới lá có lông màu xanh xám, có chấm nhựa. Hoa không có cuống, dài 7-10mm, bề ngang 12-15mm. Tràng hoa hình chuông, màu vàng hoặc nâu vàng, có 4 thùy không đều nhau, có 4 nhị, 4 tế bào noãn trong 4 noãn, chỉ nhị dài. Hạt to, dẹt, không có vỏ hạt, nảy mầm trong nước.

4.2 Phân bố

Mắm đen phân bố ở vùng bờ biển ở Nam Á, Úc và châu Đại Dương, phía bắc Pakistan, Tanaserim, đảo Andaman, Sri Lanka và Việt Nam, Thái Lan, bán đảo Malacca, Philippin, Sumatra, Madura, Java, Borneo, Celebes, đảo Sunda, đảo Molucca, New Guinea.

4.3 Đặc điểm sinh thái

Mắm đen sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa trung bình năm tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm 20 – 26oC, pH từ 6 - 8,5, thường gặp ở vùng đất sét kiềm ở bờ biển hoặc đầm lầy.

 

5. Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza(L.) Savigny)

5.1 Đặc điểm hình thái

Vẹt dù là cây thân gỗ cao 8-25m, đường kính thân 40-90cm, có nhiều rễ thở mọc từ rễ ngang dài. Vỏ cây màu xám đến đen bên ngoài, bên trong có màu đỏ. Lá đối, hình elip, dải 9-20cm, rộng 5-7cm, nhọn ở cả hai đầu. Cuống lá dài 2-4,5cm. Hoa màu đỏ, vàng hoặc màu kem. Hoa có 2 nhị, nhụy hoa có 3-4 tế bào noãn, mỗi tế bào có 2 noãn, vòi nhụy mảnh. Quả rủ xuống, có hình trứng, dài 2-2,5cm. Hạt có đường kính 1,5-2cm. Trụ mầm có nhiều tinh bột có thể làm thức ăn cho gia súc. Mùa thu hái trụ mầm kéo dài từ tháng 4 đến tháng.

5.2 Phân bố

Vẹt dù phân bố ở vùng nhiệt đới gồm: nam và bắc châu Phi, Madagascar, Seychelles, Sri Lanka, Đông nam Á, Ryukyu, Australia, Polynesia.

5.3 Đặc điểm sinh thái

Vẹt dù sinh trưởng tốt ở vùng có lượng mưa trung bình nămtương đối cao, nhiệt độ trung bình năm 20-26oC, pH từ 6,0 - 8,5, đất sét kiềm ở vùng bờ biển hoặc đầm lầy. Vẹt dù ít khi mọc thuần loài, thường hỗn giao với Đước đôi, Dà quánh, Xu ổi và Ráng dại.

6. Cây sú (Aegyceras floridum R. Sch)

6.1 Đặc điểm hình thái

Là cây tiểu mộc, cao 1-3 m, phân nhánh nhiều sát mặt đất như bụi. Lá đơn, mọc cách sát nhau gần như đối, xếp xoắn ốc, dài 5-7 cm dày, dai, phiến hình trứng ngược, gốc hình nêm, đầu tròn hay hơi lõm. Hoa chụm trụ tán đơn mọc đầu cành, hoa màu trắng, rất thơm. Quả nang hình trụ, dài 3-7cm, hình trụ hơi cong lúc trưởng thành với đài tồn tại, có 1 hạt. Hoa nở tháng 11-4, quả chín vào tháng 12-7.

6.2 Đặc điểm sinh thái

Sú thường mọc ở bờ sông, bãi bùn gần cửa sông nước lợ hay nước mặn hoặc gặp trên các dạng đất sét có độ mặn gần nước biển, thích nghi được với nhiều độ mặn khác nhau.

Là loài tiên phong cùng với Avicennia marina. Sú cũng thường xuất hiện cùng với Ceriops decandra và Rhizophora sp.

7. Cây trang (Kandelia obovata)

7.1 Đặc điểm hình thái

Cây gỗ nhỏ có thể cao tới 5-7m, không có rễ khí sinh nhưng có bạnh gốc, vỏ thân nhẵn, hơi xám. Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục thon dài, đầu tròn, gốc hình nêm, mép lá nguyên, thường uốn xuống phía lưng. Tụ tán lưỡng phân với 4 hoa hay nhiều hơn ở nách lá, 5 hoặc 6 cánh hoa màu trắng, có nhiều sợi nhỏ dài giữa các thùy. Quả thai sinh mang trụ mầm dài 15-40cm. Đài tồn tại cùng với quả. 5-6 cánh đài hình dải cong vểnh lên. Ra hoa tháng 5-6, thu quả (trụ mầm) tháng 7-9.

7.2 Phân bố

Cây trang (Kandelia) là loài cây tương đối phổ biến trong hệ thống rừng ngập mặn. Tuy nhiên, sự phân bố của các loài trang (gồm 2 loài: candel và obovata) ở các nơi trên thế giới là khác nhau,trang phân bố chủ yếu ở Bangladesh, Indonesia, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam…

7.3 Đặc điểm sinh thái

Cây mọc trên đất bùn cát dọc sông có độ mặn thay đổi, thường mọc hỗn giao với đước, bần, sú. Cây trang có tính thích nghi tốt khi độ mặn của đất thay đổi là do việc làm tăng khả năng chống lại ảnh hưởng của các ion muối trong màng tế bào của lá.

8. Cây đước vòi (Rhizophora stylosaGriff.)

8.1 Đặc điểm hình thái

Các loài đước là cây thân gỗ cao từ 20-35m, đường kính thân (D1,3): 30-45cm, có khi tới 70cm. Ở một số nơi đất cao ngập triều, nghèo dinh dưỡng, không ngập triều thường có kích thước nhỏ hơn và tăng trưởng chậm.

Rễ có đặc trưng điển hình cho thực vật sống trong vùng có thủy triều lên xuống, thường xuyên bị tác động bởi sóng biển, kết cấu của đất chưa ổn định. Rễ cọc ít phát triển, chú yếu là hệ thống rễ chống (rễ chân nôm) gồm từ 8-12 rễ. Ngoài nhiệm vụ giữ cho cây đứng vững trước gió bão còn có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây. Rễ thở hay rễ khí sinh cũng thường thấy ở loài đước, chúng mọc trực tiếp trên thân cây nơi ít khi ngập nước làm chức năng hô hấp.

Thân đước tròn thẳng, vỏ dày màu nâu xám đến nâu đen và có nhiều vết nứt dạng ô vuông. Là cây có đặc tính phân cành và có tán lá hình dù (1-5 tuổi), biến đổi thành hình trụ khi cây từ 6 tuổi trở đi, cành thường nhỏ và có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt. Lá đơn, mọc đối từng đôi một, phiến lá dày hình thuôn dài, cuống là dài 1,5-2cm. Cụm hoa hình tán, mỗi cặp có 2 hoa mọc từ nách lá, hoa không cuống, màu đỏ lợt.

Quả hình trái lê, dài 20-25cm. Hạt nảy mầm ngay sau khi chin và không có thời gian nghỉ ngay ở trên cây mẹ tạo ra cây con nối liền với quả gọi là trụ mầm.Trụ mầm có hình dạng thuôn, phần trong hơi phình to sau nhọn dần, màu lục có nhiều lỗ vỏ, khi chin già thì xuất hiện một vòng cổ (giữa quả và trụ mầm) dài 1,5-2cm, vòng cổ chuyển từ màu xanh lục sang màu vàng là trụ mầm bắt đầu chín và sắp rời quả và cây mẹ. Cây thường ra hoa vào tháng 4-5, chín vào tháng 7-10, nhưng cuối mùa rất dễ bị sâu, mọt đục quả.

Sự đẻ thân của cây Đước: đối với rừng đước tái sinh tự nhiên vấn đề đẻ thân của cây Đước hầu như rất ít và khi tái sinh tự nhiên mật độ cây Đước ban đầu là rất dày, không đủ không gian cho việc đẻ thân. Đối với rừng trồng hay rừng tự nhiên mọc ở những vùng đất trũng nội địa, việc đẻ thân của cây Đước diễn ra bình thường. Đước đẻ thân càng nhiều khi rừng trồng càng thưa. Yếu tố ánh sáng quyết định đến việc đẻ thân của cây Đước. Khi trồng rừng ở mật độ thưa từng cá thể vươn ra bằng cách đẻ thân để chiếm không gian sống. Việc đẻ thân của Đước xuất hiện khi rừng trồng được 3-4 tuổi và định hình về mật độ ở 5-6 tuổi.

8.2 Đặc điểm sinh thái

Các loài đước ưa khí hậu nóng ẩm, có cường độ chiếu sáng mạnh, có lượng mưa hàng năm cao từ 1.500-2.500mm. Độ mặn biến động từ 5-60%o, nhưng thích hợp nhất vào khoảng 25-30%o. Độ ngập triều trung bình từ 100-300 ngày/năm thích hợp cho sự sinh trưởng của Đước, độ ngập triều thấp như: bãi bồi ven biển, vùng trũng nội địa… thời gian ngập trên 300 ngày/năm và độ ngập triều cao dưới 100 ngày/năm không thích hợp cho sự sinh trưởng của đước.

HÌNH ẢNH MỘT SỐ LOÀI CÂY NGẬP MẶN

Hình 1: Đước vòi (Rhizophora stylosaGriff.)

Hình 2: Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza(L.) Savigny)

Hình 3: Trang (Kandelia obovata)

Hình 4: Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.)

Hình 5: Sú (Aegyceras floridum R. Sch)

Hình 6: Mắm biển(Avicennia marina(Forsk.) Vierh)

 

Tác giả: TS. Phạm Minh Cương, ThS. Trần Thị Lợi

 

Tin khác
Copyright belongs to the Institute of Ecology and Protection of the
Address: No. 267 Chua Boc - Dong Da - Ha Noi
Phone: (04) 3852 1162 Fax: (04) 3851 87 Email: vienbvct@vnn.vn
Any information copied from this website must clearly state the source www.vienbaovecongtrinh.vn
Designed by the Center for Irrigation Technology Software